Chuyển đến nội dung chính

Luật sư khuyên nên lập vi bằng nếu bị xúc phạm trên facebook, zalo

Blog Thừa phát lại – Xin hỏi, quyền tự do ngôn luận là gì? Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận khác với việc lạm dụng quyền này để xâm phạm quyền, lợi của cá nhân, tổ chức như thế nào? Khi bị xúc phạm trên mạng xã hội, công dân phải làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?

Trả lời:

Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rõ: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới”.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”.

Tại Việt Nam, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định, công dân có quyền tự do ngôn luận, đồng thời nhấn mạnh: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều đó là tương ứng với yêu cầu được đặt ra trong các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp “quyền tự do ngôn luận” của mọi công dân là quyền được tự do trong giới hạn mà pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tự do ngôn luận khác với việc tuỳ tiện vu khống, bôi nhọ, xâm hại đến cá nhân, tổ chức. Mọi người thể hiện quyền tự do ngôn luận nhưng phải tuân thủ giới hạn mà pháp luật quy định, không thể sử dụng quyền này để công kích, xúc phạm đến tổ chức, cá nhân khác.

Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân như sau:

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Tóm lại, công dân có đầy đủ các quyền tự do được Hiến pháp ghi nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tín ngưỡng. Tuy nhiên, cần phải bảo đảm sử dụng các quyền tự do đó một cách hợp pháp và không gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức khác.

Khi bị xúc phạm trên mạng xã hội, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trước tiên, người bị xúc phạm phải thu thập toàn bộ chứng cứ liên quan đến việc mình bị xúc phạm trên facebook, zalo...; chụp lại màn hình, xác minh tài khoản (mạng xã hội) của người xúc phạm mình; nhờ thừa phát lại lập vi bằng về hành vi của người đó (để tránh trường hợp họ xoá clip, hay xoá bài đăng).

vi bằng trên zalo
Hình minh họa

Sau khi đã thu thập đầy đủ thì công dân nên liên hệ đến các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết theo quy định. Khi đến trực tiếp cơ quan Công an để tố giác, trình báo vụ việc, người bị hại cần mang theo các giấy tờ sau: đơn trình báo vụ việc; chứng minh thư, căn cước công dân của người bị hại; các tài liệu, chứng cứ kèm theo có liên quan đến hành vi của người xúc phạm.

LS. Kim Cẩm Thuý (Nguồn: Báo Tây Ninh)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.