Chuyển đến nội dung chính

Phí cấp bản sao vi bằng là bao nhiêu?

Blog Thừa phát lại - Độc giả lexuan....@gmail.com gửi câu hỏi đến Blog Thừa phát lại và thắc mắc một số nội dung liên quan đến việc cấp bản sao vi bằng. Trong bài viết này, Blog Thừa phát lại sẽ giải đáp thắc mắc về việc cấp bản sao vi bằng.

Trường hợp nào được xin cấp bản sao vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại đang lưu trữ bản chính?

Căn cứ Điều 42 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định như sau:

Cấp bản sao vi bằng

1. Việc cấp bản sao vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại đang lưu trữ bản chính vi bằng đó thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc cung cấp hồ sơ vi bằng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã lập vi bằng;

b) Theo yêu cầu của người yêu cầu lập vi bằng, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vi bằng đã được lập.

2. Người yêu cầu cấp bản sao vi bằng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này phải trả chi phí cấp bản sao vi bằng theo mức sau đây: 05 nghìn đồng/trang, từ trang thứ 03 trở lên thì mỗi trang là 03 nghìn đồng.

Theo đó, việc cấp bản sao vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại giữ bản chính chỉ thực hiện trong 02 trường hợp:

- Theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc cung cấp hồ sơ vi bằng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã lập vi bằng;

- Theo yêu cầu của người yêu cầu lập vi bằng, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vi bằng đã được lập.

phí sao y vi bằng
Phí cấp bản sao vi bằng (Hình minh họa)

Mức phí cấp bản sao vi bằng hiện nay là bao nhiêu?

Theo quy định tại Điều 42 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định như sau:

Cấp bản sao vi bằng

1. Việc cấp bản sao vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại đang lưu trữ bản chính vi bằng đó thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc cung cấp hồ sơ vi bằng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã lập vi bằng;

b) Theo yêu cầu của người yêu cầu lập vi bằng, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vi bằng đã được lập.

2. Người yêu cầu cấp bản sao vi bằng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này phải trả chi phí cấp bản sao vi bằng theo mức sau đây: 05 nghìn đồng/trang, từ trang thứ 03 trở lên thì mỗi trang là 03 nghìn đồng.

Theo đó, trường hợp cấp bản sao vi bằng theo yêu cầu của người yêu cầu lập vi bằng, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vi bằng đã được lập sẽ thu chi phí cấp bản sao vi bằng.

Phí cấp bản sao vi bằng quy định như sau: 05 nghìn đồng/trang, từ trang thứ 03 trở lên thì mỗi trang là 03 nghìn đồng.

Trường hợp cấp bản sao theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc cung cấp hồ sơ vi bằng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã lập vi bằng thì Văn phòng Thừa phát lại có trách nhiệm thực hiện và sẽ không thu phí.

Việc sửa lỗi kỹ thuật vi bằng được quy định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 41 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định như sau:

        Sửa lỗi kỹ thuật vi bằng

1. Trong trường hợp có sai sót về kỹ thuật trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn vi bằng mà việc sửa không làm ảnh hưởng đến tính xác thực của sự kiện, hành vi được lập vi bằng thì Thừa phát lại có trách nhiệm sửa lỗi đó. Việc sửa lỗi kỹ thuật vi bằng được thực hiện tại Văn phòng Thừa phát lại đã lập vi bằng đó.

2. Thừa phát lại thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi nội dung đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng dấu của Văn phòng Thừa phát lại.

3. Trong trường hợp vi bằng đã được gửi cho người yêu cầu và Sở Tư pháp thì Văn phòng Thừa phát lại phải gửi vi bằng đã được sửa lỗi kỹ thuật cho người yêu cầu và Sở Tư pháp.

Theo đó, khi có sai sót về kỹ thuật trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn vi bằng mà việc sửa không làm ảnh hưởng đến tính xác thực của sự kiện, hành vi được lập vi bằng thì Thừa phát lại có trách nhiệm sửa lỗi đó. Việc sửa lỗi kỹ thuật vi bằng được thực hiện tại Văn phòng Thừa phát lại đã lập vi bằng đó.

Thừa phát lại thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi nội dung đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng dấu của Văn phòng Thừa phát lại.

Trong trường hợp vi bằng đã được gửi cho người yêu cầu và Sở Tư pháp thì Văn phòng Thừa phát lại phải gửi vi bằng đã được sửa lỗi kỹ thuật cho người yêu cầu và Sở Tư pháp.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.