Chuyển đến nội dung chính

Hai chai hóa chất trên bàn và câu chuyện về một người nhân viên cũ

Một chị chủ doanh nghiệp tìm đến gặp tôi vì một chuyện mà có lẽ người làm kinh doanh lâu năm nghe qua cũng thấy khó chịu.

Chị sản xuất và phân phối một mặt hàng hóa chất. Doanh nghiệp không phải kiểu làm một hai lô hàng rồi thôi, mà đã có quy trình sản xuất, đóng gói, khách hàng và mạng lưới nhà phân phối của riêng mình. Theo lời chị, một nhân viên cũ từng làm ở đó khá lâu nên biết gần như hết những “mối mang” bên trong: hàng làm thế nào, đóng gói ra sao, bán cho ai, nhà phân phối ở đâu, khách hàng quen là những người nào.

Rồi người nhân viên ấy nghỉ việc.

Sau đó, theo câu chuyện chị kể, người này hợp tác với một bên khác và cũng bắt đầu đưa ra thị trường một sản phẩm cùng loại.

Nếu chỉ có vậy thì chắc chẳng có gì để nói. Người ta nghỉ việc rồi tự kinh doanh, làm cùng ngành, thậm chí làm cùng loại sản phẩm cũng là chuyện không lạ trong đời sống làm ăn.

Điều làm chị bức xúc nằm ở chỗ khác.

Sản phẩm mới có bao bì khá giống sản phẩm của chị. Cách trình bày trên nhãn cũng gần giống, còn tên thì chỉ đổi đi một chút. Ví dụ nếu sản phẩm của chị là “Thanh Hương”, thì bên kia dùng một cái tên kiểu “Thanh Huyền”.

Tôi dùng hai cái tên này để minh họa, hoàn toàn không phải tên thật trong hồ sơ.

Nhưng chuyện khiến chị khó chịu nhất lại là mã vạch. Theo chị, mã trên sản phẩm kia được đưa sang gần như nguyên xi; khi dùng ứng dụng quét mã, thông tin trả về lại hiện tên doanh nghiệp của chính chị.

Chưa hết. Chị còn được một số nhà phân phối kể lại rằng phía bên kia chào hàng theo cách khiến người mua hiểu đây là “sản phẩm mới của Thanh Hương”.

Ngồi nghe, tôi hiểu vì sao chị tức.

Có lẽ trong chuyện làm ăn, cảm giác khó chịu nhất đôi khi không phải vì ngoài thị trường xuất hiện thêm một đối thủ. Đối thủ vốn là chuyện bình thường. Cái làm người ta nặng lòng hơn là khi phía bên kia lại có bóng dáng một người từng làm cùng mình, từng biết những việc bên trong mà người ngoài không dễ gì biết được.

Nhưng cảm giác ấy là của chị.

Còn việc của tôi lại bắt đầu từ một câu hỏi khác.

Làm sao ghi nhận được câu chuyện này bằng những sự việc mà chính mình trực tiếp nhìn thấy?

Thừa hành viên và chủ doanh nghiệp quan sát hai sản phẩm hóa chất có bao bì gần giống nhau trong một hồ sơ vi bằng
Có những lúc bằng mắt thường mình cũng thấy hai sản phẩm rất giống nhau, nhưng nghề lại đòi hỏi phải biết chính xác mình được phép nói đến đâu (Nguồn ảnh: AI)

Muốn nói về một món hàng, trước hết phải có được chính món hàng ấy

Chị muốn lập vi bằng.

Từ góc độ tổ chức việc ghi nhận, tôi có khuyến nghị chị cân nhắc ba cách, xếp theo mức độ Thừa hành viên có thể trực tiếp quan sát được nguồn xuất hiện của sản phẩm.

Không phải ba phương án để “chứng minh bên kia sai”, càng không phải tôi đứng vào câu chuyện của một bên để xây cách đối phó với bên còn lại. Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, nếu món hàng sau này trở thành một phần của chứng cứ, thì càng trực tiếp chứng kiến nó được mua từ đâu, câu chuyện về nguồn gốc của nó càng ít khoảng trống.

Cách tốt nhất là mua trực tiếp tại địa chỉ của doanh nghiệp đang đưa sản phẩm ra thị trường.

Nếu làm được như vậy thì khá đẹp: mình đến đúng nơi, trực tiếp chứng kiến việc hỏi mua, nhận hàng, thanh toán và nhìn thấy món hàng được giao ra như thế nào. Sau đó mới ghi nhận bao bì, nhãn, mã vạch và các đặc điểm bên ngoài của nó.

Nhưng thực tế lại không đẹp như phương án trên giấy.

Địa chỉ doanh nghiệp mà chị có được gần như chỉ là một địa chỉ để liên hệ. Ở đó không có hàng bán trực tiếp. Khi đặt hàng, bên kia có thể hẹn giao tại một nơi công cộng hoặc cho shipper mang tới địa chỉ người mua.

Vậy là cách tôi ưu tiên nhất không thực hiện được.

Những lúc như thế tôi lại thấy nghề này khá giống cuộc sống: phương án gọn gàng nhất thường chỉ tồn tại trong đầu mình; bước ra ngoài thực tế thì mọi chuyện luôn ngoằn ngoèo hơn một chút.

May mà còn nhà phân phối

Cách tiếp theo là mua hàng tại một nhà phân phối đang thực sự bán sản phẩm.

Không trực tiếp bằng mua tại chính doanh nghiệp bên kia, nhưng ít nhất tôi vẫn có thể tận mắt chứng kiến việc một điểm phân phối có món hàng ấy, bán nó ra, giao đúng món hàng đó cho người mua.

May mắn là cách này làm được.

Chúng tôi tìm được một nhà phân phối có hàng. Tôi trực tiếp ghi nhận việc mua, nhận sản phẩm và sau đó tiếp tục quan sát chính món hàng vừa được lấy về.

Đến lúc hai sản phẩm được đặt cạnh nhau trên bàn, câu chuyện bỗng trở nên rất cụ thể.

Một chai là sản phẩm của doanh nghiệp chị.

Một chai là sản phẩm vừa mua từ nhà phân phối.

Tôi nhìn bằng mắt thường và phải thừa nhận rằng hai sản phẩm giống nhau thật.

Từ hình dáng bên ngoài, cách bố trí bao bì đến cách trình bày nhãn, nhìn tổng thể khá gần nhau. Hai điểm khác dễ nhìn thấy nhất là tên thương hiệu và thông tin về nhà sản xuất.

Nếu chỉ là một người bình thường nhìn hai chai hàng đặt cạnh nhau, có lẽ việc nói “giống quá” là phản ứng rất tự nhiên.

Nhưng đúng lúc đó, tôi lại phải nhớ mình đang ngồi ở đây với tư cách gì.

Tôi có thể ghi rằng sản phẩm A có hình thức như thế này, sản phẩm B có hình thức như thế kia. Tôi có thể chụp lại cả hai, mô tả phần nhãn, tên sản phẩm, thông tin nhà sản xuất, vị trí mã vạch và những gì mắt thường quan sát được.

Tôi cũng có thể thực hiện thao tác quét mã và ghi nhận tại thời điểm đó màn hình đang trả về thông tin gì.

Nhưng từ câu:

“Tôi thấy hai sản phẩm rất giống nhau”

đi đến câu:

“Sản phẩm này xâm phạm sản phẩm kia”

là một khoảng cách mà người lập vi bằng không được tự tiện bước qua.

Tôi thấy giống, nhưng điều đó chưa biến tôi thành người phán xét

Có một điều khá thú vị trong nghề này: đôi khi chính mắt mình cũng nhìn thấy điều gần giống với điều khách hàng đang bức xúc.

Khách hàng nói bao bì giống. Tôi nhìn, cũng thấy giống.

Khách hàng nói tên gần nhau. Đặt hai cái tên cạnh nhau, đúng là nghe gần nhau.

Khách hàng nói mã vạch có vấn đề. Thực hiện thao tác quét và nhìn màn hình trả kết quả, đúng là có một dữ liệu đáng để ghi nhận.

Nhưng nghề lại bắt mình phải đứng chậm hơn cảm xúc một nhịp.

Bởi hai sản phẩm cùng loại hoàn toàn có thể sử dụng những dạng chai phổ biến. Một số cách trình bày nhãn cũng có thể là cách trình bày thông thường. Hai cái tên nghe gần nhau chưa tự động có nghĩa là một bên đã xâm phạm quyền của bên kia.

Còn câu chuyện nhãn hiệu đã được bảo hộ đến đâu, dấu hiệu nào thuộc quyền của doanh nghiệp chị, mức độ tương tự có gây nhầm lẫn hay không, việc sử dụng mã vạch ấy có vấn đề gì… là những câu hỏi cần người có chuyên môn tương ứng phân tích và cuối cùng để cơ quan có thẩm quyền đánh giá khi phát sinh thủ tục xử lý.

Tôi không cần giành phần việc ấy.

Phần của tôi nhỏ hơn.

Nhưng nếu làm đúng, nó lại khá quan trọng:

Ghi nhận cho chắc cái đang có thật trước mắt mình.

Cách thứ ba thì vẫn có, nhưng tôi luôn để sau cùng

Ngay từ đầu tôi cũng khuyến nghị một khả năng khác nếu hai cách trên đều không thể thực hiện.

Bên chị có thể tự đi mua hàng và quay lại toàn bộ quá trình, sau đó cung cấp file video để Thừa hành viên kiểm tra, trích xuất và ghi nhận nội dung đang thể hiện trong file.

Cách này vẫn có thể hữu ích trong một số trường hợp. Nhưng tôi luôn nhìn nó như phương án sau cùng, bởi lúc ấy mình không trực tiếp chứng kiến việc mua.

Tôi chỉ trực tiếp chứng kiến một file video đang hiển thị điều gì.

Đó là hai chuyện khác nhau.

Nếu chính tôi có mặt khi món hàng được mua từ nhà phân phối, tôi có thể nói mình đã nhìn thấy quá trình đó. Còn nếu khách hàng mang một video tới, tôi chỉ có thể trung thực mà nói rằng tôi đã xem một file và file đó đang thể hiện những hình ảnh như vậy.

Vi bằng không làm cho khoảng thời gian mình không có mặt bỗng trở thành một sự kiện mình đã trực tiếp chứng kiến.

Có lẽ đó cũng là lý do tôi thích đọc lại những câu chuyện thực tiễn của nghề hơn là chỉ đọc những câu chữ rất chuẩn trong giáo trình. Ngoài thực tế, cùng một yêu cầu nhưng cách làm nhiều khi phải đổi liên tục theo những gì đang thực sự xảy ra.

Câu chuyện của chị khiến tôi nghĩ thêm về những người từng làm cùng nhau

Sau khi hồ sơ hoàn tất, tôi vẫn nghĩ về câu chuyện của chị nhiều hơn một chút.

Không hẳn vì hai chai hóa chất.

Cũng không hẳn vì cái mã vạch.

Mà vì người nhân viên cũ.

Trong một doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa, nhiều thứ rất khó giấu với những người làm việc cùng mình lâu ngày. Họ biết khách hàng của mình là ai, biết sản phẩm được làm ra bằng cách nào, biết những chỗ mình làm tốt và cả những chỗ mình còn yếu.

Lúc còn làm cùng nhau, những hiểu biết ấy là điều giúp công việc chạy nhanh hơn.

Đến một ngày mỗi người đi một hướng, chính những điều đã biết ấy đôi khi lại trở thành thứ khiến người còn lại thấy bất an.

Tôi không biết giữa chị và người nhân viên cũ đã thực sự xảy ra những gì ngoài câu chuyện một phía mà tôi được nghe. Cũng không biết phía bên kia sẽ kể câu chuyện ấy như thế nào.

Vì vậy tôi không muốn biến bài viết này thành câu chuyện về một người tốt và một người xấu.

Cuộc sống làm ăn hiếm khi đơn giản đến vậy.

Có khi một người nghĩ mình đang bị phản bội, trong khi người kia lại nghĩ họ chỉ đang bắt đầu một con đường riêng. Có khi bên này nhìn thấy một sản phẩm quá giống mình, còn bên kia lại cho rằng đó chỉ là những đặc điểm phổ biến của cùng một loại hàng.

Đó là lý do cuối cùng người ta cần chứng cứ.

Không phải để chứng cứ nói thay mình rằng “tôi đúng”.

Mà để khi mỗi bên đều có một câu chuyện của riêng mình, vẫn còn những sự kiện đủ rõ để người có thẩm quyền nhìn vào và đánh giá.

Có lẽ cái khó của nghề nằm ở việc biết mình phải dừng ở đâu

Vi bằng của hồ sơ này cuối cùng được lập thành công.

Tôi đã trực tiếp ghi nhận việc mua sản phẩm từ nhà phân phối, quan sát món hàng, bao bì, nhãn, thông tin nhà sản xuất và việc quét mã vạch.

Bằng mắt thường, tôi cũng thấy hai sản phẩm giống nhau thật.

Nhưng vi bằng phải dừng ở đó.

Không biến chữ “giống” thành chữ “giả”.

Không biến sự gần nhau của hai cái tên thành kết luận “xâm phạm”.

Không biến điều chị khách hàng đang nghi ngờ thành một sự thật do Thừa hành viên xác nhận.

Những người quan tâm tới các tình huống ghi nhận hàng hóa, tài sản có thể đọc thêm bài vi bằng ghi nhận hiện trạng tài sản hoặc các bài trong nhóm vi bằng.

Làm nghề lâu rồi, tôi ngày càng thấy nhiều việc mình làm không khó ở thao tác.

Cầm máy lên chụp không khó.

Quét một mã vạch cũng không khó.

Viết lại những gì mình đang nhìn thấy cũng không phải phần khó nhất.

Phần khó hơn là khi mình đã nghe một câu chuyện rất thuyết phục, đã nhìn thấy những thứ khiến chính mình cũng phải nghĩ “ừ, giống thật”, nhưng vẫn giữ được một khoảng lùi để tự hỏi:

Điều nào là tôi đang quan sát? Điều nào chỉ là khách hàng kể? Và điều nào phải để người khác có thẩm quyền kết luận?

Có lẽ một vi bằng đáng tin không cần cố gắng nói những câu thật mạnh.

Nó chỉ cần nói thật chắc những gì mình đã thấy.

Và biết im lặng ở đúng phần không thuộc về mình.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.