Chuyển đến nội dung chính

Kiến nghị làm rõ việc không được thành lập Thừa phát lại sau khi chuyển nhượng VP Thừa phát lại

Blog Thừa phát lại - Một Thừa phát lại hợp danh rút tên không còn là Thừa phát lại hợp danh có được xem là “Thừa phát lại đã chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại”.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020. Với tư cách là một người đang hành nghề Thừa phát lại, tác giả nhận thấy mình có trách nhiệm góp tiếng nói của mình. Hiện, tác giả cùng với Văn phòng nơi làm việc là Thừa phát lại Bến Thành đã gửi văn bản kiến nghị, đề xuất đến Hội Thừa phát lại TP. Hồ Chí Minh đồng thời gửi đến Cục Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp. Trên trang Blog Thừa phát lại, tác giả sẽ chia sẻ lại một số kiến nghị, đề xuất này. Đầu tiên là việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định hạn chế Thừa phát lại không được tham gia thành lập Văn phòng Thừa phát lại sau khi đã chuyển nhượng văn phòng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì Thừa phát lại đã chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại không được phép thành lập, tham gia thành lập Văn phòng Thừa phát lại mới trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày chuyển nhượng, nhưng được phép hành nghề Thừa phát lại theo chế độ hợp đồng lao động.

Theo tác giả, đây là một quy định phù hợp, đúng đắn để đảm bảo sự ổn định của hệ thống Thừa phát lại, tránh việc lợi dụng việc cấp phép thành lập văn phòng Thừa phát lại để mua đi, bán lại trục lợi. Hãy tưởng tượng, một Thừa phát lại có điểm số cao trong bộ tiêu chí thành lập văn phòng Thừa phát lại như thời gian công tác pháp luật, thời gian công tác trong ngành thi hành án dân sự, thời gian công tác tại cơ quan quản lý nhà nước về thừa phát lại ... sẽ cho thuê thẻ để mở rồi rút từ văn phòng này đến văn phòng khác thì sẽ gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về thừa phát lại, làm ảnh hưởng đến nhu cầu mở văn phòng thực của những Thừa phát lại khác.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã xuất hiện nhiều cách hiểu, vận dụng khác nhau về nội hàm “Thừa phát lại đã chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại” tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 08, đặc biệt là tại 2 địa phương lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Tại TP. Hồ Chí Minh, việc một Thừa phát lại từng là thành viên hợp danh (Công ty hợp danh) hoặc là Trưởng văn phòng (doanh nghiệp tư nhân) của một văn phòng Thừa phát lại thì điểm số bằng 0 nếu chưa rút tên đủ tối thiểu 05 năm. Đọc giả vui lòng tham khảo bộ tiêu chí thành lập Văn phòng Thừa phát lại của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh tại đây.

Tuy nhiên, khoảng thời gian từ năm 2021-2022 tại Hà Nội, một số Thừa phát lại thôi thành viên hợp danh (Công ty hợp danh) hoặc là Trưởng văn phòng (doanh nghiệp tư nhân) dưới 05 năm vẫn được tham gia thành lập Văn phòng Thừa phát lại dẫn đến các khiếu nại đến Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp như một số báo chí đã đưa tin.

Tham khảo bài viết của Báo Công an nhân dân: Hà Nội: Những dấu hiệu bất thường trong việc thành lập hàng loạt Văn phòng Thừa phát lại

thừa phát lại uy tín tphcm
Thừa phát lại Đức Hoài trong một lần lập vi bằng hiện trạng

Liệu rằng, một Thừa phát lại hợp danh rút tên không còn là Thừa phát lại hợp danh có được xem là “Thừa phát lại đã chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại”. Về nguyên tắc, một Thừa phát lại hợp danh rút tên thì Văn phòng Thừa phát lại đó vẫn thuộc về các thành viên hợp danh còn lại. Nếu cho rằng đây là trường hợp chuyển nhượng văn phòng thì chưa được thuyết phục. 

Do đó, để thống nhất cách hiểu, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 36 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP như sau: "Thừa phát lại thôi làm Trưởng văn phòng hoặc thành viên hợp danh của Văn phòng Thừa phát lại không được phép thành lập, tham gia thành lập Văn phòng Thừa phát lại mới trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày thôi làm Trưởng Văn phòng hoặc thành viên hợp danh, nhưng được phép hành nghề Thừa phát lại theo chế độ hợp đồng lao động".

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.