Chuyển đến nội dung chính

Các vi phạm phổ biến của Chủ đầu tư về chỗ đỗ xe ô tô?

Blog Thừa phát lại - Hiện nay, việc tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng chỗ đỗ xe ô tô trong chung cư giữa cư dân và Chủ đầu tư diễn ra khá phổ biến. Vậy theo quy định pháp luật, việc bán, cho thuê chỗ đỗ xe ô tô ở chung cư được thực hiện như thế nào?

06 vi phạm của Chủ đầu tư

Căn cứ điểm b Điều 101 Luật Nhà ở năm 2014 thì đối với chỗ để xe ô tô dành cho các chủ sở hữu nhà chung cư thì người mua, thuê mua căn hộ hoặc diện tích khác trong nhà chung cư quyết định mua hoặc thuê; trường hợp không mua hoặc không thuê thì chỗ để xe ô tô này thuộc quyền quản lý của chủ đầu tư và chủ đầu tư không được tính vào giá bán, giá thuê mua chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe này. Việc bố trí chỗ để xe ô tô của khu nhà chung cư phải bảo đảm nguyên tắc ưu tiên cho các chủ sở hữu nhà chung cư trước sau đó mới dành chỗ để xe công cộng. 

Hình minh họa (Nguồn internet)

Qua nghiên cứu, các hành vi vi phạm điển hình của Chủ đầu tư như sau:
  1. Trường hợp nhà chung cư có đủ chỗ để xe ô tô dành cho mỗi căn hộ nhưng chủ đầu tư không bán hoặc cho thuê chỗ để xe ô tô khi người mua, người thuê mua căn hộ yêu cầu (theo nguyên tắc mua, thuê không vượt quá số lượng chỗ để xe được thiết kế, xây dựng theo dự án được duyệt dành cho một căn hộ hoặc một phần diện tích thuộc sở hữu riêng trong nhà chung cư);
  2. Trường hợp nhà chung cư có đủ chỗ để xe ô tô dành cho mỗi căn hộ nhưng chủ đầu tư cho mua, thuê vượt quá số lượng chỗ để xe được thiết kế, xây dựng theo dự án được duyệt dành cho một căn hộ hoặc một phần diện tích thuộc sở hữu riêng trong nhà chung cư;
  3. Trường hợp nhà chung cư không có đủ chỗ để xe ô tô dành cho mỗi căn hộ, chủ đầu tư tự quyết định phương án bán, cho thuê mua mà không để cho những người mua căn hộ tự thỏa thuận với nhau về việc mua, thuê ô tô;
  4. Chủ đầu tư không tổ chức bốc thăm để những người mua, thuê mua căn hộ được mua, thuê chỗ để xe ô tô trong trường hợp họ không tự thỏa thuận được với nhau;
  5. Bán hoặc cho người bên ngoài thuê chỗ để xe ô tô mà không ưu tiên cho người mua, thuê mua căn hộ;
  6. Người mua, người thuê mua không mua, thuê chỗ để xe nhưng chủ đầu tư tính vào giá bán, giá thuê mua chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe này.

Cách tránh các vi phạm

  • Trường hợp nhà chung cư có đủ chỗ để xe ô tô dành cho mỗi căn hộ, chủ đầu tư bán hoặc cho thuê chỗ để xe ô tô khi người mua, người thuê mua căn hộ yêu cầu theo nguyên tắc mua, thuê không vượt quá số lượng chỗ để xe được thiết kế, xây dựng theo dự án được duyệt dành cho một căn hộ hoặc một phần diện tích thuộc sở hữu riêng trong nhà chung cư.
  • Trường hợp nhà chung cư không có đủ chỗ để xe ô tô dành cho mỗi căn hộ, chủ đầu tư để những người mua căn hộ tự thỏa thuận với nhau về việc mua, thuê ô tô và bán theo phương án mà họ đã thỏa thuận. Trường hợp họ không tự thỏa thuận được với nhau thì chủ đầu tư tổ chức bốc thăm để họ mua, thuê chỗ để xe ô tô.
  • Chỉ bán hoặc cho người bên ngoài thuê chỗ để xe ô tô mà khi người mua, thuê mua căn hộ không mua, thuê chỗ để xe ô tô.
  • Không tính vào giá bán, giá thuê mua chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe nếu người mua, người thuê mua không mua, thuê chỗ để xe này.

Hậu quả pháp lý của Chủ đầu tư khi vi phạm

  • Bị phạt 160 triệu đến 200 triệu đồng;
  • Buộc phải bán, cho thuê chỗ để xe ô tô trong nhà chung cư đúng quy định.

Căn cứ pháp lý

- Điều 101 Luật Nhà ở năm 2014;
- Điều 8 Thông tư số 02/2016/TT-BXD;
- Điều 2 Thông tư 07/2021/TT-BXD;
- Điểm h khoản 2, điểm o khoản 5 Điều 67 Nghị định 16/2022/NĐ-CP.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.