Chuyển đến nội dung chính

Vi bằng bị tranh chấp giá trị pháp lý, phải xử sao?

Blog Thừa phát lại - Hiện nay, đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề xử lý vi bằng được lập, đã được đăng ký nhưng thừa phát lại có vi phạm tức là tranh chấp về giá trị pháp lý của vi bằng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, các bên yêu cầu Tòa án tuyên vi bằng vô hiệu[1]. Quan điểm này đánh giá vi bằng của thừa phát lại tương tự văn bản công chứng nên nếu có vi phạm thì Tòa án tuyên vô hiệu. Quan điểm thứ hai cho rằng, các bên có thể yêu cầu Tòa án hủy vi bằng[2]. Quan điểm thứ ba thì cho rằng, nếu vi bằng không hợp pháp thì Tòa án từ chối sử dụng mà không phải hủy bỏ vi bằng; vi bằng lúc này chỉ là “tờ giấy”mà không có giá trị sử dụng. Những người theo quan điểm thứ ba lập luận thêm rằng “vi bằng là văn bản ghi nhận lại sự kiện, hành vi có thật, đã diễn ra khách quan, do đó, việc hủy bỏ vi bằng không có nghĩa là hủy bỏ được sự kiện, hành vi đó”[3].
Hình minh họa vi bằng

Hiện nay, pháp luật về tố tụng dân sự không có bất kỳ quy định nào về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp về giá trị pháp lý của vi bằng. Do đó, nếu người dân có yêu cầu, Tòa án sẽ rất lúng túng trong việc đưa ra hướng giải quyết.
Dưới góc độ lý luận, vi bằng có giá trị chứng cứ trong xét xử và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác nên trường hợp có tranh chấp giá trị pháp lý của vi bằng mà vi bằng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp thì phải có cơ chế để vô hiệu hóa giá trị vi bằng, tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác.
Tác giả không đồng tình với quan điểm thứ nhất khi cho rằng, Tòa án tuyên vi bằng vô hiệu để vô hiệu hóa vi bằng. Bởi lẽ, qua nghiên cứu thì thuật ngữ “vô hiệu” thường được áp dụng đối với các hợp đồng, giao dịch có hình thức, nội dung vi phạm quy định của pháp luật. Vi bằng là nội dung làm chứng độc lập của thừa phát lại mà không phải là hợp đồng, giao dịch. Vậy nên, Tòa án tuyên vi bằng vô hiệu như một phương thức vô hiệu hóa giá trị của vi bằng là chưa thực sự hợp lý.
Tác giả không đồng tình với quan điểm thứ ba khi cho rằng, nếu Tòa án hoặc các bên không sử dụng vi bằng thì vi bằng không có giá trị sử dụng nên không cần thiết phải hủy vi bằng. Đây là góc nhìn chưa toàn diện, bởi vì, việc sử dụng vi bằng hiện nay rất đa dạng. Vi bằng có thể không được sử dụngtrong vụ việc này nhưng có thể được sử dụng ở một vụ việc khác mà không ai kiểm soát được nếu chúng ta không có một văn bản, quyết định vô hiệu hóa vi bằng của cơ quan có thẩm quyền gửi các bêncó liên quan.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai là nên trao quyền cho Tòa án hủy bỏ vi bằng khi phát hiện vi bằng có vi phạm. Đối với các văn bản pháp lý không mang tính hợp đồng, ví dụ: Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên, bản án của Tòa án, quyết định hành chính,... thì để vô hiệu hóa giá trị của chúng khi có vi phạm, pháp luật quy định phương thức hủy bỏ. Vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, không mang tính hợp đồng nên khi có vi phạm, Tòa án tuyên hủy bỏ là hợp lý theo thông lệ chung. Trên thực tế, đã có Tòa án tuyên hủy bỏ vi bằng[4].
Tuy nhiên, cần phân biệt là đối với các vi bằng mà thừa phát lại chỉ vi phạm về thủ tục lập vi bằng thì việc hủy bỏ vi bằng không có nghĩa là hủy bỏ các sự kiện, hành vi nêu trong vi bằng mà chỉ hủy bỏ hình thức chứa đựng thông tin về sự kiện, hành vi. Sau khi vi bằng bị hủy bỏ, lời làm chứng của thừa phát lại trở thành lời làm chứng của người bình thường cùng các tài liệu đính kèm vi bằng vẫn có giá trị là nguồn chứng cứ theo quy định khoản 1, khoản 4 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 46 Nghị định số 61 chỉ quy định chung chung là “đối với việc lập vi bằng, nếu có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết”. Điều 73 của Dự thảo về thừa phát lại đã quy định chi tiết hơn là tranh chấp liên quan đến hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định; còn tranh chấp về vi bằng thì các bên yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, Dự thảo Nghị định về thừa phát lại chưa đưa ra được hướng giải quyết đối với tranh chấp giá trị pháp lý của vi bằng.
Trên cơ sở bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 73 của Dự thảo Nghị định về thừa phát lại như sau
“2. Trường hợp vi bằng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp nhưng các bên phát hiện thừa phát lại có vi phạm trong quá trình lập vi bằng thì có quyền yêu cầu Tòa án xem xét hủy bỏ vi bằng”.
Ngoài ra, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố hủy bỏ vi bằng”.




[1] Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh. “Vi bằng của thừa phát lại phải được đăng ký”. Internet: http://plo.vn/ban-doc/vi-bang-cua-thua-phat-lai-phai-duoc-dang-ky-177238.html, 18/5/2018.
[2] Bùi Trọng Hào. “Lập vi bằng để lại tài sản cho con”. Internet: http://kinhtedothi.vn/lap-vi-bang-de-lai-tai-san-cho-con-274289.html, 18/5/2018.
[3] Báo cáo ngày 06/10/2017 của Bộ Tư pháp về thực trạng lập, đăng ký vi bằng và xử lý vi phạm hành chính trong tổ chức và hoạt động thừa phát lại.
[4] Bản án sơ thẩm số 92/2017/DS-ST ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và Bản án phúc thẩm số 67/2018/DS-PT NGÀY 13/04/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Nguồn: Trích Luận văn "Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Hoài, bảo vệ tại Đại học kinh tế - Luật năm 2019.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.