Chuyển đến nội dung chính

Thực tiễn hoạt động tống đạt của Thừa phát lại

Blog Thừa phát lại - Hiện nay, hoạt động Thừa phát lại đang gặp phải những vấn đề vướng mắc, khó khăn như sau:
Thứ nhất, nhận thức của các cơ quan và người dân về Thừa phát lại chưa cao. Về nhận thức, mặc dù đã có sự tuyên truyền, tuy nhiên đại đa số người dân vẫn chưa biết về thừa phát lại. Do đó, dẫn đến tình trạng khi thừa phát lại tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự nhưng đương sự không đồng ý nhận vì cho rằng Văn bản của Tòa án phải do Tòa án hoặc cơ quan nhà nước tống đạt. Bên cạnh đó, một số cơ quan nhà nước ở địa phương vẫn còn nhận thức “xin cho” gây nhiều khó khăn trong hoạt động của thừa phát lại. Do họ cho rằng Thừa phát lại là tổ chức tư nhân, do đó nhiều lúc không đồng ý xác nhận Văn bản tống đạt của Thừa phát lại.[1]
Thứ hai, đó là vấn đề chi phí tống đạt và nhân lực của Văn phòng thừa phát lại không được hợp lý. Theo quy định tại Thông tư liên tịch 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại theo Nghị quyết 36/2012/QH13 do Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp - Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao - Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao - Bộ Trưởng Bộ Tài Chính ban hành thì trường hợp tống đạt các văn bản của Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự và mức chi phí được tính  như sau: trong phạm vi cấp huyện nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại  không quá 65.000 đồng/việc, ngoài phạm vi cấp huyện nơi đặt Văn phòng nhưng trong địa bàn cấp tỉnh  không quá 130.000 đồng/việc.
tống đạt là gì
Thư ký tống đạt chuẩn bị lên đường làm nhiệm vụ (Thừa phát lại Thủ Đức)
Việc quy định như trên tạo điều kiện cho việc quản lý chi phí được dễ dàng và rõ ràng. Tuy nhiên, vô tình gây nên sự bất cập khi mà theo địa giới hành chính thì có huyện diện tích rất rộng, còn quận nội thành thì rất nhỏ. Ví dụ: từ Văn phòng thừa phát lại huyện Bình Chánh đến xã Vĩnh Lộc B hoặc xã Đa Phước mất đến 1 giờ chạy xe mới gần 30km. Còn diện tích Quận 1 chỉ 7,7km2. Do đó, có thể thấy cùng mức chi phí 65.000 đồng/việc trong địa bàn huyện nhưng Văn phòng thừa phát lại huyện Bình Chánh phải bỏ ra nhiều chi phí đi lại đáng kể so với Văn phòng thừa phát lại Quận 1. Bên cạnh đó, khi quy định chung mức phí không quá 130.000 đồng/việc ngoài phạm vi cấp huyện nơi đặt Văn phòng nhưng trong địa bàn cấp tỉnh là bất hợp lý. Nguyên nhân do khoảng cách giữa các Quận, huyện là rất chênh lệch. Ví dụ  Tuy cùng là địa bàn ráp gianh nhau, nhưng từ huyện Hóc Môn đến huyện Củ Chi khoảng cách đến 30km, còn từ Quận 1 đến Quận 4 chỉ 3km. Do đó, bất cập trong quy định về kinh phí dẫn đến việc các Văn phòng thừa phát lại tại các Quận trung tâm thu hút được nhân lực, còn các huyện ngoại thành luôn trong tình trạng thiếu nhân lực. Điều đó gây áp lực lớn lên các thư ký của các Văn phòng thừa phát lại ở huyện và làm ảnh hưởng đến chất lượng tống đạt văn bản tố tụng.
Thứ ba, đó là trường hợp biên bản niêm yết của Thừa phát lại không đủ 15 ngày. Trên thực tế, có nhiều trường hợp biên bản niêm yết của Thừa phát lại không đủ 15 ngày dẫn đến việc phải thực hiện lại cái thủ tục tố tụng, đương sự khiếu nại Tòa án hoặc thậm chí hủy án do vi phạm thủ tục tố tụng nếu biên bản không được kiểm tra kỹ lưỡng. Tuy nhiên, khi xảy ra sự việc thì Tòa án chỉ có thế hướng dẫn cho đương sự khiếu nại Văn phòng Thừa phát lại theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự mà không có bất kỳ chế tài nào khác. Bên cạnh đó là quy địnhmột Cơ quan thi hành án dân sự hoặc một Tòa án chỉ được ký hợp đồng tống đạt với một Văn phòng Thừa phát lại” theo khoản 7 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Điều này vô tình làm mất tính cạnh tranh và tạo sự độc quyền cho Văn phòng thừa phát lại. Trường hợp Thừa phát lại hoạt động không hiệu quả, thì Tòa án có được cắt hợp đồng và nhờ Văn phòng Thừa phát lại khác hay không.




[1]Báo cáo chuyên đề  Một số vấn đề về tổ chức thi hành nghị quyết của quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại – Bộ Tư pháp (Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2016 và định hướng nhiệm kỳ 2016-2020).
 Nguồn: Luận văn về Quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật Tố tụng dân sự - Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện của tác giả Mai Hoàng Phước-Đại học Kinh tế-Luật.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.