Quan điểm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu công nhận, bác bỏ, tuyên vô hiệu hoặc hủy bỏ vi bằng

Chế định Thừa phát lại và vi bằng đang đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập nguồn chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao dịch dân sự. Theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (và trước đó là Nghị định 61/2009/NĐ-CP, Nghị định 135/2013/NĐ-CP), vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự, hành chính; là căn cứ để thực hiện giao dịch.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, quan điểm của các Tòa án đối với các yêu cầu hủy bỏ hoặc không công nhận giá trị của vi bằng vẫn còn nhiều điểm chưa đồng nhất. Bài viết này dựa trên phân tích các bản án, quyết định thực tiễn, sẽ làm rõ quan điểm của Tòa án và giải quyết câu hỏi: Liệu Tòa án có thẩm quyền và đủ căn cứ pháp lý để tuyên vô hiệu hoặc hủy bỏ một vi bằng hay không?

II. PHÂN TÍCH THỰC TIỄN XÉT XỬ TỪ CÁC BẢN ÁN/QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các hồ sơ, quan điểm của Tòa án đối với vi bằng được thể hiện qua hai khía cạnh chủ yếu: (1) Thụ lý giải quyết yêu cầu hủy vi bằng như một vụ án độc lập; và (2) Xem xét, đánh giá để bác bỏ giá trị chứng cứ của vi bằng trong một vụ án có liên quan.

1. Xung đột quan điểm về thẩm quyền hủy bỏ vi bằng của Tòa án

Pháp luật tố tụng dân sự (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 - BLTTDS) không liệt kê minh thị yêu cầu hủy vi bằng là một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại Điều 26. Điều này dẫn đến hai luồng quan điểm trái chiều trong thực tiễn xét xử:

Quan điểm thứ nhất: Tòa án có thẩm quyền thụ lý và tuyên hủy vi bằng

Quan điểm này cho rằng, vi bằng được lập theo yêu cầu của đương sự, nếu có sai phạm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên, Tòa án có quyền áp dụng khoản 3 Điều 26 BLTTDS (Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự) để thụ lý và tuyên hủy vi bằng.

Tại Bản án số 13/2021/DS-ST ngày 20/9/2021 của TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Tòa án đã viện dẫn khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, cùng Điều 72 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP để khẳng định Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu hủy vi bằng là đúng thẩm quyền. Hậu quả là Tòa án đã tuyên chấp nhận khởi kiện và hủy Vi bằng số 62/2021/VB-TPLHD.

Tương tự, tại Bản án số 67/2018/DS-PT ngày 13/4/2018 của TAND tỉnh Đồng Nai, cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều thống nhất thụ lý vụ án khởi kiện độc lập yêu cầu hủy vi bằng và đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Vi bằng số 719/VB-TPLBH ngày 30/11/2015.

Quan điểm thứ hai: Tòa án không có thẩm quyền giải quyết vụ án khởi kiện “hủy vi bằng”

Quan điểm này theo đánh giá của tác giả có sự bám sát hơn về mặt lý luận chức năng của vi bằng. Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 159/2023/QĐST-DS ngày 09/6/2023 của TAND thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án tranh chấp yêu cầu hủy Vi bằng. Tòa án lập luận dựa trên khoản 3 Điều 36, Điều 72 Nghị định 08/2020/NĐ-CP rằng vi bằng chỉ là nguồn chứng cứ hoặc căn cứ để thực hiện giao dịch. Do đó, việc khởi kiện yêu cầu hủy vi bằng là không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của BLTTDS.

2. Các căn cứ pháp lý để Tòa án bác bỏ giá trị pháp lý, hủy bỏ vi bằng

Bỏ qua tranh cãi về mặt thủ tục tố tụng (có quyền tuyên vô hiệu hay hủy bỏ), khi đi vào nội dung, các Tòa án đều thống nhất việc không sử dụng thông tin trong vi bằng làm căn cứ để xét xử nếu phát hiện sai phạm. Cụ thể:

Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc trực tiếp chứng kiến của Thừa phát lại

Bản chất của vi bằng là sự bảo chứng của Thừa phát lại đối với một sự kiện, hành vi diễn ra trên thực tế mà chính họ là người tri giác trực tiếp. Khoản 1 Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định rõ: “Thừa phát lại phải trực tiếp chứng kiến, lập vi bằng và chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và trước pháp luật về vi bằng do mình lập”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy đang có sự nhầm lẫn hoặc đánh giá chưa thỏa đáng về việc cái gì mới là đối tượng Thừa phát lại cần trực tiếp chứng kiến.

Trước hết, cần khẳng định việc Thừa phát lại hoàn toàn không có mặt tại hiện trường nhưng vẫn lập vi bằng là một vi phạm nghiêm trọng tính khách quan. Điển hình là tại Bản án số 13/2021/DS-ST ngày 20/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải DươngTòa án đã tuyên hủy Vi bằng số 62/2021/VB-TPLHD ngày 19/4/2021 do Thừa phát lại Vương Thị Hồng H lập tại kho Công ty TNHH TT ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Hồ sơ vụ án và lời khai chỉ ra rằng, Thừa phát lại đã không vào trực tiếp chứng kiến sự việc mà cho thư ký vào chụp ảnh, quay video

Trong trường hợp này, sai phạm là hiển nhiên vì Thừa phát lại đã ủy quyền quyền năng “tri giác” của mình cho người khác, dẫn đến việc nội dung vi bằng không phản ánh đúng sự thực khách quan mà họ trực tiếp thấyHội đồng xét xử khẳng định nội dung vi bằng không thể hiện đúng sự việc thực tế khách quan và vi phạm điểm 8 Điều 37 cùng Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, từ đó có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy vi bằng.

Tuy nhiên, yếu tố trực tiếp chứng kiến lại bị đẩy đi quá xa trong cách tiếp nhận của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tại Bản án số 67/2018/DS-PT ngày 13/4/2018. Tòa án này đã tuyên hủy Vi bằng số 719/2015/VB-TPLBH với nhận định: “trong trường hợp này thừa phát lại chỉ ghi nhận trình bày của đương sự chứ không trực tiếp chứng kiến việc hai bên cùng nhau hùn tiền để mua đất là chưa phù hợp quy định”.

Ở đây, tác giả nhận thấy một sự nhầm lẫn đáng kể về mặt nghiệp vụ giữa hai bản án này:

Trong Bản án số 13, Thừa phát lại sai vì không chứng kiến sự kiện đang diễn ra tại hiện trường (việc kiểm tra kho hàng). Ngược lại, trong Bản án số 67, Tòa án lại yêu cầu Thừa phát lại phải chứng kiến một sự kiện trong quá khứ (việc hùn tiền đã xảy ra trước đó).

Việc Tòa án tỉnh Đồng Nai đánh đồng hành vi xác nhận hiện tại với giao dịch trong quá khứ để tuyên hủy vi bằng là chưa thuyết phục. Đối tượng “trực tiếp chứng kiến” ở đây không phải là việc hùn tiền, mà là hành vi phát ngôn và xác nhận tự nguyện của các bên ngay tại thời điểm đó. Thừa phát lại chứng kiến và chịu trách nhiệm về việc “các bên đã trình bày như thế trước mặt tôi”, chứ không chịu trách nhiệm về tính đúng sai của nội dung lời trình bày đó. Việc Tòa án đòi hỏi Thừa phát lại phải chứng kiến cả những sự kiện đã trôi qua không chỉ trái với bản chất của chế định này mà còn vô hình trung triệt tiêu giá trị của vi bằng trong việc ghi nhận lời khai – một nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng dân sự. Do đó, nếu soi chiếu từ góc độ nghiệp vụ, cách tiếp cận về “trực tiếp chứng kiến” của Tòa án trong Bản án số 67 là khiên cưỡng và chưa chuẩn xác so với tinh thần của Nghị định về Thừa phát lại. 

Tác giả trong một lần chứng kiến buổi làm việc, lập vi bằng

Thứ hai, vi phạm về thẩm quyền, nội dung và xâm phạm quyền lợi của người thứ ba

Vi bằng không được phép ghi nhận các sự kiện, hành vi để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai, tài sản khi không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp theo quy định.

Cũng tại Bản án số 67/2018/DS-PT ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Vi bằng số 719/2015/VB-TPLBH ghi nhận việc các bên xác nhận “cùng nhau chuyển nhượng các thửa đất 84, 87, 89, 168”. Tuy nhiên, qua quá trình giải quyết, Tòa án làm rõ rằng thửa đất số 84 thuộc quyền sở hữu của một người thứ ba (ông Hồng Q) và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án nhận định nội dung thỏa thuận trong vi bằng là trái quy định của pháp luật vì đã xâm phạm đến quyền lợi của ông Hồng Q, từ đó tuyên y án sơ thẩm, hủy bỏ hoàn toàn vi bằng này.

Về vấn đề này, tác giả cho rằng cần có sự rạch ròi giữa giá trị của một văn bản chứng cứ và hiệu lực của một giao dịch dân sự.

Vi bằng bản chất chỉ là nguồn chứng cứ ghi nhận sự thật khách quan (các bên đã có mặt và trình bày như vậy), nó không phải là hợp đồng chuyển nhượng hay văn bản có giá trị thay thế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc các bên khai nhận sai sự thật về tài sản của bên thứ ba là lỗi của đương sự, vi bằng chỉ làm nhiệm vụ phản ánh trung thực lỗi đó của họ. Một lời trình bày sai sự thật đơn phương được ghi nhận lại hoàn toàn không mặc nhiên làm mất đi quyền sở hữu của ông Hồng Q trên thực tế, bởi quyền lợi của ông đã được bảo vệ bằng Giấy chứng nhận do nhà nước cấp.

Thay vì tuyên hủy bỏ toàn bộ vi bằng – tức là phủ nhận luôn cả sự thật khách quan về việc các bên đã từng trình bày như vậy, Tòa án nên áp dụng nguyên tắc đánh giá chứng cứ:

Công nhận thuộc tính khách quan của vi bằng: Xác nhận đúng là các bên đã có mặt và trình bày.

Bác bỏ giá trị chứng minh của nội dung: Tuyên bố nội dung lời trình bày trong vi bằng không có giá trị làm căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản vì trái pháp luật và xâm phạm quyền người thứ ba.

Cách tiếp cận này hợp lý hơn việc hủy bỏ vi bằng. Bởi lẽ, nếu giữ nguyên giá trị hình thức của vi bằng, Tòa án sẽ có một bằng chứng vật chất chứng minh các đương sự đã có hành vi trình bày gian dối hoặc nhầm lẫn khi xác lập trình bày. Điều này đặc biệt hữu ích để giải quyết các tranh chấp bồi thường thiệt hại hoặc trách nhiệm pháp lý khác phát sinh từ chính lời trình bày sai sự thật đó về sau. Hủy bỏ vi bằng vô hình trung làm mất đi dấu vết gian dối của đương sự, đồng thời gây rủi ro cho hoạt động nghề nghiệp của Thừa phát lại.

Thứ ba, vi phạm quy định bắt buộc về thủ tục đăng ký vi bằng

Tòa án nhận định, sự hợp pháp của vi bằng không chỉ dừng lại ở thời điểm ký kết mà còn phụ thuộc vào thủ tục đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước.

Tại Bản án số 14/2021/DS-ST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, nguyên đơn đã cung cấp một bộ hồ sơ lập vi bằng và 03 đĩa CD nhằm chứng minh hành vi xúc phạm danh dự trên không gian mạng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử lập luận rằng, đối với chứng cứ là vi bằng thì bắt buộc “phải thực hiện đăng ký theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Nghị định 08/2020/NĐ-CP”. Do nguyên đơn cung cấp vi bằng nhưng “không chứng minh được vi bằng này đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật”, Tòa án đã bác bỏ, không coi tài liệu này là chứng cứ hợp pháp trong vụ án.

Dưới góc độ khoa học pháp lý, hướng tiếp cận này của Tòa án cần được thảo luận và nhìn nhận lại. Cần phân định rõ sự chuyển biến trong tư duy lập pháp giữa Nghị định số 08/2020/NĐ-CP hiện hành và Nghị định số 61/2009/NĐ-CP trước đây.

Khác với giai đoạn trước, tinh thần của Nghị định 08/2020/NĐ-CP không coi việc đăng ký tại Sở Tư pháp là điều kiện có hiệu lực hay là thủ tục bắt buộc để đảm bảo tính hợp pháp của vi bằng. Trách nhiệm gửi vi bằng đến Sở Tư pháp để vào sổ đăng ký (theo khoản 4 Điều 39) là nghĩa vụ của Văn phòng Thừa phát lại, và đây thuần túy là một thủ tục mang tính chất quản lý hành chính nhà nước. Giá trị chứng cứ của vi bằng thực chất đã được xác lập kể từ thời điểm Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập, ký tên và đóng dấu. Sự thiếu sót trong khâu đăng ký (nếu có) là vi phạm hành chính của tổ chức hành nghề, chứ không làm triệt tiêu tính khách quan và sự thật đã được ghi nhận trong văn bản.

Do đó, việc Tòa án ngay lập tức tước bỏ toàn bộ giá trị chứng cứ của vi bằng chỉ vì đương sự “không chứng minh được đã đăng ký” là một sự đánh giá có phần cứng nhắc và nặng về hình thức. Thay vì bác bỏ ngay lập tức, để đảm bảo giải quyết vụ án toàn diện và bảo vệ quyền lợi của đương sự, Tòa án nên vận dụng các biện pháp tố tụng linh hoạt và phù hợp hơn. Cụ thể, Tòa án có thể ấn định thời hạn để đương sự bổ sung tài liệu, yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại giải trình, hoặc chủ động ra văn bản xác minh trực tiếp tại Sở Tư pháp theo thẩm quyền thu thập chứng cứ được quy định tại BLTTDS 2015. 

Thứ tư, thiếu tính xác thực về nguồn gốc của dữ liệu được lập vi bằng

Sự hợp pháp và độ tin cậy của vi bằng không chỉ nằm ở chữ ký và con dấu của Thừa phát lại, mà còn phụ thuộc vào phương pháp thu thập và xác định chứng cứ, đặc biệt là khi ghi nhận các thông điệp dữ liệu điện tử, âm thanh, hình ảnh.

Tại Bản án số 185/2024/DS-PT ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, một bên đương sự nộp một vi bằng ghi nhận đoạn ghi âm có thời lượng 31 phút 43 giây. Đánh giá về vi bằng này, Tòa án chỉ ra lỗ hổng nghiêm trọng về nghiệp vụ: văn bản “không mô tả cụ thể trích xuất đoạn ghi âm từ thiết bị gì, có phải bản gốc hay không”. Hơn thế nữa, đoạn ghi âm được thực hiện vào năm 2016, tức là sau 4 năm kể từ ngày ký hợp đồng chuyển nhượng đang có tranh chấp (năm 2012). Dựa trên những khiếm khuyết về nguồn gốc hình thành và phương pháp thu thập dữ liệu này, Hội đồng xét xử xác định vi bằng nói trên chỉ có giá trị là “tài liệu tham khảo, không phải là chứng cứ được thu thập theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự” và không sử dụng để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tác giả hoàn toàn đồng tình với lập luận và phán quyết này của Hội đồng xét xử. Quyết định của Tòa án không chỉ đúng với bản chất của chế định Thừa phát lại mà còn tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về xác định chứng cứ điện tử theo Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.

Theo quy định tại Điều 94 và Điều 95 BLTTDS 2015, dữ liệu điện tử (như file ghi âm, video, email) được công nhận là chứng cứ. Tuy nhiên, giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử phải được xác định dựa trên “cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu...”. Do đặc thù của dữ liệu kỹ thuật số là tính dễ biến mất, dễ cắt ghép, tinh chỉnh và làm giả, yêu cầu về việc truy xuất nguồn gốc và tính toàn vẹn là điều kiện tiên quyết.

Trong nghiệp vụ lập vi bằng, nếu Thừa phát lại đơn thuần chỉ nhận một file ghi âm từ đương sự, ngồi nghe và chép chính tả lại thành văn bản mà bỏ qua quy trình kiểm tra, ghi nhận thông tin điện tử về nguồn gốc, ghi nhận lời trình bày của đương sự về nguồn gốc thì đó là một sai lầm về phương pháp. Một vi bằng ghi nhận dữ liệu điện tử chuẩn mực phải minh thị được các yếu tố: (i) Lời trình bày của người cung cấp dữ liệu về nguồn gốc, xuất xứ của dữ liệu đó (ví dụ, ai ghi âm, ghi âm ở đâu, vào thời gian nào, có những ai trong cuộc ghi âm, ghi âm về vấn đề gì…); (ii) Thiết bị chứa dữ liệu gốc là gì (nhãn hiệu, số seri); (iii) Thuộc tính dữ liệu (Metadata) như ngày tạo lập, định dạng, dung lượng file; (iv) Toàn bộ quá trình thao tác mở, xem/nghe và trích xuất dữ liệu đó phải được Thừa phát lại mô tả chi tiết, lý tưởng nhất là quay video màn hình lưu lại làm bằng chứng vật chất đính kèm.

Nếu Thừa phát lại chỉ thực hiện việc trích xuất bề mặt mà không mô tả nguồn gốc, không ghi nhận các yếu tố nhận diện (datameta) làm rõ được đây là bản gốc hay bản sao đã qua chỉnh sửa, thì thao tác của một tổ chức hành nghề được Nhà nước trao quyền khác gì cách làm của một người bình thường tự ngồi gỡ băng ghi âm? Sự chứng kiến của Thừa phát lại lúc này trở nên vô nghĩa vì họ chỉ chứng kiến kết quả chứ không chứng kiến việc kiểm tra nguồn gốc của dữ liệu.

III. BÌNH LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ THỰC TIỄN

Từ các phân tích trên, để trả lời câu hỏi: “Tòa án có quyền hoặc đủ căn cứ pháp lý để tuyên vô hiệu, hủy bỏ vi bằng hay không?”, tác giả đưa ra nhận định như sau:

1. Về mặt nội hàm thuật ngữ và thẩm quyền tố tụng:

Cần phân định rõ giữa vi bằng và giao dịch dân sự. Vi bằng bản chất là một văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật; trong một số trường hợp có thể chứa thông tin ghi nhận một giao dịch dân sự diễn ra nhưng bản chất là một văn bản tuyên bố, một lời trình bày đơn phương của một bên (Thừa phát lại) về những gì mà Thừa phát lại đã chứng kiến. Vi bằng không phải là một giao dịch dân sự. Do đó, việc áp dụng Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 (điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự) để tuyên vi bằng vô hiệu là một sự khiên cưỡng về mặt lý luận pháp luật. Nếu nội dung vi bằng ghi nhận một giao dịch trái pháp luật, Tòa án tuyên giao dịch được ghi nhận trong vi bằng là vô hiệu, chứ không phải bản thân vi bằng vô hiệu.

Về tố tụng, BLTTDS 2015 không có quy định nào cho phép khởi kiện một vụ án dân sự độc lập chỉ để hủy vi bằng. Quyết định số 159/2023/QĐST-DS của TAND TP. Cao Lãnh thể hiện quan điểm này: Vi bằng là nguồn chứng cứ. Việc yêu cầu hủy một nguồn chứng cứ không phải là một quan hệ pháp luật dân sự tranh chấp thuộc thẩm quyền Tòa án.

2. Kiến nghị hướng giải quyết của Tòa án:

Thay vì thụ lý một vụ án để hủy vi bằng (như TAND thành phố Chí Linh hay TAND tỉnh Đồng Nai đã làm), Tòa án cần hướng dẫn đương sự khởi kiện tranh chấp quan hệ pháp luật gốc (ví dụ: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp bồi thường thiệt hại). Trong quá trình giải quyết vụ án gốc đó, nếu phát hiện vi bằng vi phạm Nghị định 08/2020/NĐ-CP (ví dụ: Thừa phát lại không trực tiếp chứng kiến, vi phạm bí mật đời tư, trích xuất dữ liệu không rõ nguồn gốc gốc thiết bị ghi âm theo Bản án 185/2024/DS-PT của TAND Đồng Tháp), Tòa án thực hiện quyền bác bỏ giá trị chứng cứ của vi bằng (tức không sử dụng vi bằng làm căn cứ giải quyết tranh chấp) theo nguyên tắc đánh giá chứng cứ quy định tại Điều 108 BLTTDS 2015.

IV. KẾT LUẬN

Vi bằng là một công cụ pháp lý quan trọng nhưng không phải là một thiết chế không thể bị xem xét lại. Các bản án cho thấy, Tòa án kiểm soát rất chặt chẽ hình thức và quy trình lập vi bằng theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, về phương pháp, hệ thống Tòa án cần thống nhất quan điểm xử lý theo hướng: Tòa án không thụ lý vụ án độc lập để tuyên hủy bỏ vi bằng hay tuyên vi bằng vô hiệu, mà Tòa án sẽ kiểm tra, đánh giá và bác bỏ giá trị chứng cứ của vi bằng khi giải quyết một vụ án thực tế nếu vi bằng đó vi phạm các quy định về thẩm quyền hoặc tính khách quan, trung thực. Điều này vừa bảo đảm đúng nguyên lý của luật tố tụng, vừa ngăn chặn các vi bằng được lập sai quy định làm ảnh hưởng đến công lý.

Thừa phát lại Đức Hoài

0 Nhận xét

Tư Vấn & Hỏi Đáp

Giải đáp các thắc mắc, chia sẻ những góc nhìn chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn về các vấn đề pháp lý liên quan đến nghề Thừa phát lại.