Chuyển đến nội dung chính

Làm tiểu tam, người thứ ba coi chừng bị đi tù

Trong xã hội hiện đại, các câu chuyện về “người thứ ba”, “trà xanh”, hay “tiểu tam” xen vào trong quan hệ hôn nhân thường được xem là chủ đề nóng trên các diễn đàn và mạng xã hội. Đa số chúng ta tiếp cận chúng dưới góc độ đạo đức, sự chung thủy, hay sự tan vỡ của một gia đình. Tuy nhiên, nhiều người không để ý, hành vi này có thể cấu thành tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự.
{tocify} $title = {Nội dung chính của bài viết}

Do ít bị xử lý nên nhiều người không để ý hoặc xem rằng, tội này “chỉ có trên giấy”. Thực tế, pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc khi đối tượng đã bị xử phạt hành chính mà vẫn cố tình tái phạm.

Các bản án được chia sẻ dưới đây để mọi người cẩn trọng hơn trong các mối quan hệ của mình. Dù hình phạt có thể là cải tạo không giam giữ hay án treo thì một khi đã đứng trước vành móng ngựa, đó là một “án tích hình sự” nên không nên phá vỡ hôn nhân của người khác. Khi chuẩn bị sống chung với một người thì xác định họ không trong quan hệ hôn nhân với người khác (bao gồm cả việc dù họ ly thân nhưng chưa ly hôn).

Tham khảo 06 bản án hình sự

Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội này, và các vụ án dưới đây rơi vào hai trường hợp phổ biến nhất:

Trường hợp 1: Điểm a, Khoản 1: Hành vi vi phạm làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên tan vỡ.

Trường hợp 2: Điểm b, Khoản 1: Hành vi vi phạm dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Tòa án đã áp dụng các quy định này trong thực tế như thế nào?

Nhóm 1: Gây hậu quả “tan vỡ hôn nhân” (Điểm a, Khoản 1)

Đây là nhóm tội phạm phổ biến nhất, nơi Tòa án xác định hành vi chung sống như vợ chồng của người thứ ba là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc ly hôn.

1. Vụ án Đỗ Văn T và Nguyễn Nhất A (Bình Phước): Cả người chồng và “tiểu tam” cùng lãnh án

Tình tiết: Bị cáo Đỗ Văn T (chồng) và bà H là vợ chồng hợp pháp. Từ năm 2018, T bắt đầu công khai chung sống như vợ chồng với bị cáo Nguyễn Nhất A (người làm thuê cho T). Quan trọng hơn, bị cáo A biết rõ T đã có vợ con nhưng vẫn đồng ý chung sống. Sự việc kéo dài khiến bà H (vợ hợp pháp) phải làm đơn tố cáo và nộp đơn ly hôn.

Hậu quả pháp lý: Tòa án xác định hành vi của T và A là nguyên nhân trực tiếp làm quan hệ hôn nhân giữa T và bà H tan vỡ (dẫn đến ly hôn).

Mức phạt: Tòa tuyên phạt cả hai bị cáo: Đỗ Văn T (chồng) và Nguyễn Nhất A (người thứ ba) cùng mức án 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Bài học: Đây là trường hợp điển hình cho thấy người thứ ba hoàn toàn có thể bị truy tố hình sự với vai trò đồng phạm, nếu biết rõ đối phương đã có gia đình mà vẫn cố tình chung sống, gây hậu quả tan vỡ.

2. Vụ án Nguyễn Hữu H (Hà Nội): Gian dối để đăng ký kết hôn lần hai

Tình tiết: Bị cáo H đang có vợ hợp pháp là chị V (đã đăng ký kết hôn). Tuy nhiên, trong quá trình này, H vẫn tán tỉnh và tìm hiểu chị Phương A. Bị cáo H đã gian dối về tình trạng hôn nhân của mình để lừa dối chị A và cơ quan chức năng, tiến hành đăng ký kết hôn lần thứ hai với chị A và có thêm con chung.

Hậu quả pháp lý: Khi chị A phát hiện sự thật, chị đã tố cáo và làm đơn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Cùng lúc đó, chị V (vợ đầu) cũng yêu cầu ly hôn. Hậu quả là hôn nhân thứ nhất tan vỡ (ly hôn), hôn nhân thứ hai bị Tòa án tuyên hủy.

Mức phạt: Bị cáo H bị xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ.

có bị đi tù khi làm người thứ ba
Hình minh họa về việc phá vỡ hôn nhân người khác (Nguồn: Gemini)

3. Vụ án VVS (Hải Phòng): Kết hôn ở nước ngoài rồi về Việt Nam vẫn kết hôn với người khác

Tình tiết: Bị cáo VVS kết hôn với chị BH (quốc tịch Hàn Quốc, gốc Việt) tại Hàn Quốc và đã làm thủ tục ghi chú hộ tịch tại Đại sứ quán Việt Nam (do đó hôn nhân được pháp luật Việt Nam công nhận). Sau khi bị trục xuất về nước, VVS nảy sinh tình cảm với chị G.

Để cưới chị G, VVS đã khai báo gian dối với UBND xã rằng mình đã làm mất giấy xác nhận độc thân và khẳng định chưa kết hôn với chị BH. VVS được cấp giấy và tổ chức đám cưới với chị G.

Hậu quả pháp lý: Chị BH (vợ ở Hàn Quốc) phát hiện, gửi đơn ly hôn và đơn tố giác. Hôn nhân thứ hai (với chị G) bị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên ra quyết định hủy bỏ vì trái pháp luật.

Mức phạt: Bị cáo VVS bị xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ.

4. Vụ án Huỳnh Văn T (Phú Yên): Cưới vợ mới khi chưa ly hôn vợ cũ

Tình tiết: Bị cáo T và vợ hợp pháp là bà T đang trong thời gian ly thân. Trong lúc này, T có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với bà B. Bị cáo T đã giấu bà B việc mình có vợ và vẫn tổ chức lễ cưới công khai với bà B tại Trà Vinh. Chỉ sau khi đám cưới với bà B xong, T mới nộp đơn ra Tòa để ly hôn vợ đầu.

Hậu quả pháp lý: Vợ đầu (bà T) vì biết T đã cưới vợ khác nên đã đồng ý ly hôn. Tòa án xác định hành vi tổ chức cưới vợ mới của T là nguyên nhân trực tiếp làm hôn nhân với bà T tan vỡ.

Mức phạt: Bị cáo T bị xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ.

Nhóm 2: Tái phạm sau khi bị Xử phạt hành chính (Điểm b, Khoản 1)

Khi bị phát hiện, họ đã bị chính quyền địa phương lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn cố tình không chấm dứt mối quan hệ trái pháp luật, dẫn đến việc bị truy tố hình sự.

5. Vụ án Đặng Ngọc D (Tiền Giang): Bị phạt 4 triệu vẫn không “chừa”

Tình tiết: Bị cáo D (đã ly hôn vợ) chung sống như vợ chồng với chị Nh (chị Nh đang có chồng hợp pháp là anh Đ) và có một con chung. Sự việc bị anh Đ phát hiện và tố cáo.

Ngày 05/4/2024, UBND huyện Gò Công Đông đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị cáo D (4 triệu đồng) về hành vi này. Tuy nhiên, sau khi nộp phạt, D và chị Nh vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ chung sống như vợ chồng tại nhà bị cáo D.

Hậu quả pháp lý: Hành vi tái phạm ngay sau khi bị xử phạt hành chính đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự.

Mức phạt: Bị cáo D bị xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

(Trong vụ án này, chị Nh không bị truy tố hình sự vì Tòa án xác định chị Nh không nhận được Quyết định xử phạt hành chính do không có mặt tại địa phương, nên chưa đủ yếu tố “đã bị xử phạt mà còn vi phạm”).

6. Vụ án Mùa A P (Sơn La): Xô xát với vợ

Tình tiết: Bị cáo Mùa A P đang là Đảng viên và có vợ hợp pháp là chị C. Năm 2022, P đưa Giàng Thị S (chồng đã chết) về chung sống công khai như vợ chồng.

Ngày 08/4/2022, UBND huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cả P và S, yêu cầu chấm dứt quan hệ. Bất chấp việc bị xử phạt, cả hai vẫn duy trì việc chung sống. Khi vợ hợp pháp (chị C) phản đối, P còn có hành vi xô xát gây “chấn động não” (tỷ lệ 4%) cho vợ.

Hậu quả pháp lý: Bị cáo P bị đình chỉ sinh hoạt Đảng và bị truy tố hình sự.

Mức phạt: Tòa sơ thẩm phạt P 08 tháng tù giam. Tòa phúc thẩm xem xét giảm nhẹ (do bị cáo có Giấy khen), sửa án thành 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Kết luận

Sáu vụ án trên dù trong bối cảnh khác nhau nhưng người có hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng đều có kết quả chung là lĩnh án hình sự.

Những bản án này là lời cảnh tỉnh thực tế cho những ai đang có ý định làm “trà xanh”, “tiểu tam” hoặc “người thứ ba”. Khi chuẩn bị sống chung với một người thì xác định họ không trong quan hệ hôn nhân với người khác (bao gồm cả việc dù họ ly thân nhưng chưa ly hôn).

Nếu bạn làm cho gia đình họ tan vỡ (ly hôn) hoặc bạn tái phạm sau khi bị xử phạt hành chính thì đó là dấu hiệu rõ ràng hành vi của bạn cấu thành tội phạm quy định tại Điều 182 BLHS 2015.

Hình phạt có thể là cải tạo không giam giữ hoặc tù treo nhưng cả hai đều là án tích hình sự. Nó sẽ đi theo lý lịch của một người suốt đời, ảnh hưởng đến công việc, vị trí xã hội và tương lai.

TPL Đức Hoài

Nguồn Bản án: https://congbobanan.toaan.gov.vn/ và FB Luật sư Phước Vẹn

Link tải Bản án: Tại đây

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.