Chuyển đến nội dung chính

Vi bằng dưới chế độ cũ

Blog Thừa phát lại - Mặc dù biết rằng rất khó lấy xưa để luận nay, nhưng qua việc nghiên cứu về vi bằng trước đây cho chúng ta nhiều suy nghĩ về bản chất của vi bằng, giá trị pháp lý của vi bằng và cách hành văn trong vi bằng.

Qua Vi bằng này, mong mọi người hiểu rõ hơn bản chất của vi bằng: Đó là tạo lập chứng cứ với mục đích "để cho nguyên đơn tùy nghi hữu dụng trong phạm vi pháp luật". Và Vi bằng vốn chỉ ghi nhận một sự thật, bản thân vi bằng không phải là một giao dịch, cho nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Chính hành vi của các bên (tham gia trong sự kiện mà Thừa phát lại lập vi bằng) mới làm phát sinh, quyền, nghĩa vụ của họ!






NGUYỄN VĂN ĐỦ
THỪA PHÁT LẠI
HUISIER
Tòa Thượng thẩm và Sơ thẩm
152, đường Gia Long, 152
ĐT: 91.897
SAIGON
SỐ QUỐC GIA DANH BỘ
36 228 15 011

VI BẰNG CÔNG CHỨNG
Năm một nghàn chín trăm bảy mươi hai vào ngày Mười Một tháng Tư DL (11/04/1972) hồi 12 giờ.
Tại Văn phòng và trước mặt Chúng Tôi Hồ Văn Tấn, Thư ký – Trưởng Hửu Thệ cũa Ông Nguyễn Văn Đủ, Thừa phát lại tại các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm Sài Gòn, văn phòng tại số 152 đường Gia Long, Sài Gòn, ký tên dưới đây có đến lập vi bằng công chứng:
Có cô Trần Bảo Hưng, đã trưởng thành quốc tịch Việt Nam, thẻ căn cước số 00II8984 cấp tại Quận 5 ngày 14.02.1969, hành động với tư cách là thừa kế của cô Trần Cửu Muối, cư ngụ tại số 127/7 đường Hồng Bàng, Sài Gòn.
Đến trình bày với chúng tôi việc như sau:
Lúc sanh tiền, mẹ nguyên đơn là quá cố Trần Cửu Muối có cất một căn nhà bằng vật liệu nhẹ trên đất thuê của Y Viện Quảng Đông mang số 127/7 tọa lạc tại đại lộ Hồng Bàng, Sài Gòn.
Khi còn sống, mẹ nguyên đơn có nhượng căn nhà nói trên cho ông Tăng Ký, quốc tịch Việt Nam, căn cước số 02798043 cấp tại Quận 10 ngày 30/10/1969 sử dụng.
Nay mẹ nguyên đơn đã qua đời ngày 02.11.1969 do khai tử số 4635 lập tại Quận 5, Sài Gòn, và với tư cách thừa kế của quá cố Trần Cửu Muối, nguyên đơn cũng bằng lòng giao căn nhà số 127/7 đường Hồng Bàng cho ông Tăng Ký tiếp tục sử dụng.
Do đó, để có đủ tài liệu xuất trình sau này khi hữu dụng, nguyên đơn yêu cầu chúng tôi đến tại căn nhà số 127/7 đại lộ Hồng Bàng, Cholon, để vi chứng về việc nguyên đơn giao căn nhà này cho Ông Tăng Ký và nguyên đơn triệu dụng chúng tôi đến nơi lập vi bằng.
Chấp nhận lời yêu cầu của nguyên đơn cư ngụ như trên,
Chúng tôi Thư ký trưởng Hửu Thệ của Thừa phát Lại nói trên và ký tên dưới đây có thân hành đến tại căn nhà số 127/7 đại lộ Hồng Bàng, Cholon, nơi đây chúng tôi được nguyên đơn hướng dẫn vào nhà và giới thiệu với chúng tôi Ông Tăng Ký là người được nguyên đơn nhượng căn nhà cũng như trước kia mẹ nguyên đơn đã nhượng.
Kế đó, nguyên đơn có đưa Chúng tôi đi quan sát căn nhà này và Chúng tôi công chứng như sau”
Căn nhà mang số 127/7 là loại nhà trệt cất bằng vật liệu nhẹ, vách ván, lợp ngói, nền gạch, bề dài 22m và ngang 4m.
Ghi rằng theo lời của nguyên đơn thì căn nhà này do chính mẹ của nguyên đơn là quá cố Trần Cửu Muối xây cất trên đất thuê của Y viện Quảng Đông.
Sau cùng, nguyên đơn có yêu cầu Chúng tôi ghi nhận là vào ngày giờ ghi trên, nguyên đơn bằng lòng giao căn nhà số 127/7 đại lộ Hồng Bàng, Saigon cho ông Tăng Ký sử dụng như mẹ nguyên đơn là cố Trần Cửu Muối đã nhượng quyền cho ông Tăng Ký trước đây, khi mẹ nguyên đơn còn sanh tiền.
Kế đó, Ông Tăng Ký, thẻ căn cước số 02798043 cấp tại Quận 10, Sài Gòn, ngày 30.10.1969 cũng xác nhận rằng, mẹ nguyên đơn là Trần Cửu Muối, trước đây, có nhượng quyền sử dụng căn nhà trệt số 127/7 đại lộ Hồng Bàng cho Ông trong 04 năm nay, nhưng vì chỗ quen biết với gia đình cố Trần Cửu Muối do đó Ông có để cho con Bà này là nguyên đơn cư ngụ, nay vì con Bà Trần Cửu Muối không cần dùng nhà này nữa. Nên giao cho Ông và Ông bằng lòng nhận căn nhà trên đây theo đúng hiện trạng của nó, không đòi hỏi gì thêm nơi thừa kế của Bà Trần Cửu Muối, đồng thời Ông cũng cam kết đóng tiền thuế đât cho Y Viện Quảng Đông như cũ.
Ghi rằng, trong lúc đó có Bà Trần Ngọc Hương, thẻ căn cước số 02106902 cấp tại Quận 5 hiện diện tại đây, và nguyên đơn yêu cầu Chúng tôi ghi nhận cho Bà Trần Ngọc Hương làm chứng cho nguyên đơn trong việc giao căn nhà này, và Bà Trần Ngọc Hương xác nhận với chúng tôi là Bà sẵn sàng làm chứng cùng ký tên với Chúng tôi trong tờ Vi bằng này.
Các việc như trên đây, Chúng tôi lập vi bằng này để cho nguyên đơn tùy nghi hữu dụng trong phạm vi pháp luật.
Lệ phí: Năm ngàn đồng bạc (5.000 đồng)
(Đã ký) (Đã ký)
Bảo Hưng Hồ Văn Tấn
Thư ký Trưởng Hữu Thệ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.