Chuyển đến nội dung chính

Thủ tục thi hành án của thừa phát lại như thế nào?

Blog Thừa phát lại - Bài viết sau đây sẽ cung cấp một số thông tin liên quan thủ tục thi hành án của của các văn phòng Thừa phát lại theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP:

1. Thủ tục thi hành án

Thừa phát lại thực hiện các thủ tục về thi hành án theo quy định của Nghị định này và pháp luật thi hành án dân sự.

Nghĩa là khi có bản án dân sự (nghĩa rộng, bao gồm án lao động, kinh tế, thương mại....) đã có hiệu lực pháp luật nhưng bên có nghĩa vụ không chịu thi hành thì bên có quyền có thể làm văn bản đề nghị các văn phòng thừa phát lại thi hành ngoại trừ nghĩa vụ thi hành án chủ động (án phí ...).

Cùng một nội dung yêu cầu, cùng một thời điểm, người yêu cầu chỉ có quyền làm đơn yêu cầu một Văn phòng Thừa phát lại hoặc một cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.

Trường hợp người được thi hành án được thi hành nhiều khoản khác nhau trong cùng một bản án, quyết định do một người có nghĩa vụ thi hành thì cùng một thời điểm, người được thi hành án chỉ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc một Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành. Nếu các khoản được thi hành do nhiều người khác nhau có nghĩa vụ thi hành thì người được thi hành án có quyền đồng thời yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại thi hành riêng đối với từng khoản.

Trong cùng một bản án, quyết định có nhiều người được thi hành án mà trong đó có người yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, có người yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại phải phối hợp với nhau trong thi hành án.

Một vụ thi hành án của Thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh

2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Áp dụng thủ tục yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Theo đó:

Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

3. Thẩm quyền tổ chức thi hành án của thừa phát lại:

Mỗi văn phòng thừa phát lại chỉ có thẩm quyền thi hành một số bản án nhất định theo địa hạt như sau:

a) Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Tòa án nhân dân cấp huyện); bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở;

b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở;

c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở.

4. Nhiệm vụ, quyền hạn thừa phát lại:

Khi tổ chức thi hành án thì thừa phát lại có các nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

a) Thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng Thừa phát lại; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

b) Mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án;

c) Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng Thừa phát lại;

d) Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.

5. Chuyển hồ sơ thi hành án

Xử lý trường hợp chuyển vụ việc từ cơ quan thi hành án dân sự sang Văn phòng Thừa phát lại và ngược lại:

a) Đối với các vụ việc đang do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục và đình chỉ thi hành án để Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành thì đương sự không có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành đối với các khoản đã được cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án;

b) Đối với các vụ việc đang do Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục thi hành án và chấm dứt hợp đồng với Văn phòng Thừa phát lại thì người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại khác có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Yêu cầu thi hành án mới của đương sự phải nêu rõ kết quả thi hành án trước đó; những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành án tiếp và thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung yêu cầu. Trình tự, thủ tục, kết quả quá trình thi hành án trước đó nếu thực hiện đúng quy định của pháp luật vẫn có giá trị pháp lý, được công nhận và được sử dụng làm căn cứ để tiếp tục tổ chức thi hành án.

6. Buộc chấm dứt thi hành án

Thừa phát lại chấm dứt thi hành án và phải thông báo cho Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án về việc chấm dứt thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Việc thi hành án đương nhiên kết thúc theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;

b) Theo thỏa thuận giữa Thừa phát lại và đương sự, trừ trường hợp việc chấm dứt làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

c) Trường hợp phải áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;

d) Thừa phát lại tổ chức thi hành án mà phát sinh điều kiện thi hành án nằm ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở;

e) Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác;

f) Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch liên quan đến tài sản là vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác;

g) Các trường hợp phải yêu cầu Tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản; giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 68, khoản 3 Điều 69, khoản 2 Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy trình lập vi bằng trên Zalo

Blog Thừa phát lại -  Trước khi ghi nhận nội dung tin nhắn thì cần phải xác định chủ thể nhắn tin là ai. Nếu không xác định được thì những thông tin mà Thừa phát lại đã ghi nhận được không có giá trị sử dụng trên thực tế.

Thừa phát lại có được lập vi bằng tin nhắn không?

Blog Thừa phát lại -  Trong thời đại công nghệ số, tin nhắn điện thoại đã trở thành một phương tiện giao tiếp phổ biến, thậm chí được sử dụng để trao đổi thông tin quan trọng hoặc thỏa thuận các vấn đề pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, nội dung tin nhắn thường được xem là một nguồn bằng chứng tiềm năng. Vậy, liệu Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận nội dung tin nhắn hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới góc độ pháp luật. Mục lục bài viết Vi bằng là gì và vai trò của nó trong việc ghi nhận tin nhắn Như đã đề cập trong bài viết trước, vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Vi bằng có giá trị chứng cứ để các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại đang lập vi bằng Trong bối cảnh tin nhắn điện thoại ngày càng được sử dụng rộng rãi, việc ghi nhận nội dung tin nhắn một cách khách ...

Đề thi kỹ năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp [02]

Blog Thừa phát lại -  Tuy vi bằng được lập dưới hình thức ghi nhận buổi làm việc nhưng nội dung vi bằng là việc Thừa phát lại chứng kiến các bên xác nhận nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, một giao dịch thuộc thẩm quyền của công chứng hoặc chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013). Do đó, Thừa phát lại lập vi bằng là vi phạm khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.